NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG MIỀN NÚI VIỆT NAM

miennui.wordpress.com

Phát triển cao su và bảo vệ rừng ở Việt Nam

Tô Xuân Phúc- Forest trends, Trần Hữu Nghị- Tropenbos International

Tóm tắt

go-1-d280aBáo cáo Phát triến Cao su và Bào vệ rừng ờ Việt Nam phân tích tác động của việc mờ rộng diện tích trồng cao su tại Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt tập trung vào hai vùng có tốc độ mở rộng diện tích nhanh nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc. Báo cáo đưa ra một số đánh giá về tác động của việc mờ rộng diện tích đến tài nguyên rừng, kinh tế hộ và cộng đồng, cũng như các tác động liên quan đến một số khía cạnh kinh tế xã hội và văn hóa tại các địa phương thực hiện việc mờ rộng diện tích cao su. Chiến lược phát triển ngành cao su đến 2015 và tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2009 đưa ra mục tiêu đến năm 2020 diện tích cao su cả nước ổn định ở mức 800.000 ha, với tống sản lượng 1,2 triệu tấn mủ và tống kim ngạch xuất khấu đạt khoảng 2 tỉ đô-la Mỹ (USD). Đến nay, các số liệu thống kê về diện tích, sản lượng và tổng kim ngạch đều vượt xa so với quy hoạch. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phá vỡ quy hoạch, trong đó đặc biệt phải kể đến lợi ích kinh tế kỳ vọng thu được thông qua xuất khẩu mù cao su trong tương lai.

Báo cáo chỉ ra rằng việc mờ rộng diện tích trồng cao su đã có tác động rất lớn đến tài nguyên rừng. Tại Tây Nguyên, 79% diện tích trồng mới cao su được phát triển trên diện tích đất rừng tự nhiên, và không phải toàn bộ diện tích này đều là rừng nghèo kiệt bời quá trình thực hiện chuyển đổi rừng sang trồng cao su đã bị lạm dụng, không phải chì bởi các công ty cao su mà còn cà do sự ưu ái của Chính quyền một số địa phương. Con số 397.879 m3 là lượng gỗ tận thu từ việc chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cao su, thu được từ trên 200 dự án phát triển cao su tại địa bàn Tây Nguyên chỉ phản ánh một phần của tổng khối lượng gỗ được khai thác. Tại Tây Bắc, mờ rộng cao su cũng đã và đang làm mất đi những diện tích rừng do cộng đồng trực tiếp quản lý.

Mở rộng diện tích cao su tại những vùng có điều kiện thổ nhưỡng và thời tiết phù hợp với với loại cây này có thể đem lại lợi ích tiềm năng cho các công ty, hầu hết người dân địa phương sống ở những vùng này không được chia sẻ lợi ích mà các mô hình phát triển cao su đem lại. Trong khi lợi ích kinh tế từ phát triển cao su ở những vùng không có điều kiện phù hợp chưa được đảm bảo, người dân góp đất canh tác tham gia mô hình phát triển cao su với các công ty không những làm mất đi nguồn sinh kế quan trọng hàng ngày của hộ, gây ảnh hường đến an ninh lương thực địa phương, mô hình góp đất tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, đặc biệt về mặt thị trường đối với hộ gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, phát triển mô hình này đã và đang gây ra những xáo trộn nhất định về mặt xã hội, bao gồm những mâu thuẫn giữa hộ gia đình trong cộng đồng, giữa các cộng đồng với nhau, và giữa người dân và công ty cao su. Rừng cộng đồng nhường chỗ cho cao su không chỉ làm mất đi những không gian văn hóa của cộng đồng mà còn tước đoạt quyền tiếp cận của hộ gia đình đối với nguồn tài nguyên rừng này.

Chính phủ xác định chuyến đối rừng sang cây công nghiệp, bao gồm cà cây cao su, được xác định là một trong năm nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng tại nước ta. Hiện Việt Nam đang tham gia Sáng kiến Giảm phát thài do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) và Tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sàn (FLEGT). Thực hiện các cam kết này đòi hỏi phải thiết kế và vận hành các cơ chế nhằm giải quyết các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng, bao gồm cá nguyên nhân chuyến đồi rừng sang trồng cao su, hiệu quả. Đề làm được điều này đòi hòi cần phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát đối với quá trình thẩm định dự án và thực hiện dự án chuyến đồi rừng. Các công ty được cấp phép chuyền đất rừng sang đất trồng cao su không chỉ phải tuân thủ các quy định về đánh giá tác động môi trường mà còn phải tham vấn rộng rãi với cộng đồng địa phương. Nói cách khác, Chính phủ nên cân nhắc và áp dụng FPIC (Free Prior Informed Consent/ cơ chế đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, báo trước và được cung cấp thông tin) đối với tất cả các dự án chuyến đối đất lâm nghiệp sang đất trồng cao su, trong đỏ cộng đồng cần được tham vấn rộng rãi và đây đú trước khi công ty được phép thực hiện việc chuyền đối đất rừng. Quản trị rừng cũng được tăng cường thông qua sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả giữa ngành lâm nghiệp và ngành cao su cũng như giữa các cấp trong cùng một ngành dọc với nhau.

Xem file chi tiết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: