NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG MIỀN NÚI VIỆT NAM

miennui.wordpress.com

Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, thuộc vùng Đông Nam á. Phần đất liền của Việt Nam nằm trong khoảng 8o02/ – 230 23/ vĩ độ Bắc và từ 102008/ – 109028/ kinh độ Đông. Tổng diện tích tự nhiên trên đất liền vào khoảng 329.241km2. Lãnh hải rộng gấp nhiều lần phần diện tích trên đất liền do có thềm lục địa rộng lớn. 75% diện tích tự nhiên trên đất liền là đồi núi. Có hai vùng đồng bằng chính là đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. bờ biển dài hơn 3.260km, với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, có những hòn đảo lớn nằm tương đối gần bờ biển như đảo Phú Quốc, Côn Đảo và  một số quần đảo ngoài khơi.

Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa mưa điển hình ở miền Nam và thời tiết có tính chất ôn đới ở miền Bắc. Về mặt sinh địa, Việt Nam là giao điểm của vùng ấn Độ, Nam Trung Quốc và Malayxia. Do đó, một số khu vực ở Việt Nam có tính đa dạng sinh học và  tính đặc hữu cao, được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu.

Việt Nam là một nước đất hẹp, dân số vào cuối 2001 có 76,686 triệu người, trong đó dân số sống ở khu vực nông thôn có hơn 59,205 triệu người. Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, nhưng Việt Nam vẫn đang là một nước nghèo, có mức thu nhập bình quân đầu người vào loại thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn lớn. Tình hình đó đặt ra những thách thức lớn đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) và xây dựng các khu bảo tồn thiên của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Vào thập kỷ 60 của thế kỷ 20, nước ta đã bắt đầu thực hiện công tác điều tra cơ bản, đề ra những chính sách ban đầu về bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, khu rừng cấm đầu tiên ở Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình được thành lập (nay là Vườn quốc gia Cúc Phương) là  KBTTN đầu tiên của Việt Nam.

Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH đã được Đảng và Nhà nước rất chú trọng. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã ghi rõ: “Mở rộng diện tích các khu bảo tồn động thực vật hoang dã, các Vườn quốc gia, bảo vệ đa dạng sinh học”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ ra phương hướng, nội dung cụ thể về nhiệm vụ quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học.

Trong nhiệm vụ bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, việc bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH của rừng đã được chú ý sớm hơn so với việc bảo vệ tài nguyên và ĐDSH ở biển và các vùng đất ngập nước. Từ  năm 1991 đến nay, số lượng các KBTTN được quy hoạch và thiết lập đã tăng lên đáng kể. Trên cả nước đã đề nghị thiết lập 187 KBTTN, tạo thành một hệ thống các KBTTN phân bố trên các vùng sinh vật – địa lý khác nhau: Trên đất liền, ở vùng biển và ở vùng đất ngập nước.

Tổ chức quản lý bền vững các KBTTN đòi hỏi phải có một chiến lược rõ ràng, nhất quán và có tầm nhìn dài hạn. Chiến lược đó cần xác định rõ ràng mục đích, mục tiêu cụ thể, phương pháp tiếp cận và các giải pháp khả thi để xây dựng và tổ chức quản lý hệ thống các KBTTN một cách bền vững.

Xây dựng chiến lược quản lý hệ thống KBTTN ở Việt Nam (dưới đây sẽ gọi tắt là Chiến lược) là một khuyến nghị ưu tiên của kế hoạch hành động ĐDSH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1995. Chính vì vậy, dự án “Tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn tại Việt Nam” (viết tắt là dự án SPAM) do Chính phủ Vương quốc Đan Mạch tài trợ đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện, nhằm mục đích hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng và đề xuất Chiến lược quản lý hệ thống KBTTN đến năm 2010.

Trong ba năm thực hiện dự án, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với nhiều cơ quan và các Bộ có liên quan, thu hút các nhà khoa học tham gia nghiên cứu và soạn thảo “Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn ở Việt Nam 2003-2010”. Căn cứ xây dựng chiến lược được dựa trên cơ sở những bài học kinh nghiệm tốt đã thu được và sự đóng góp ở cấp cơ sở, cùng với sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và các cơ quan có liên quan. Tháng 4/2003, Bộ NN&PTNT đã gửi dự thảo Chiến lược tới các Bộ, ngành có liên quan để xin ý kiến tham gia. Bộ NN&PTNT đã tiếp thu ý kiến của các Bộ và tu chỉnh thành “Chiến lược quản lý hệ thống KBTTN ở Việt Nam đến năm 2010”.

Bản chiến lược này là văn bản chính thức của Bộ NN&PTNT trình Chính phủ phê xét duyệt. Sau khi được phê duyệt, Chiến lược này sẽ là cơ sở để lập các kế hoạch quản lý các KBTTN ở rừng đặc dụng (RĐD), các KBTTN ở vùng đất ngập nước và các KBTTN ở vùng biển.

Xem file chi tiết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: