NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG MIỀN NÚI VIỆT NAM

miennui.wordpress.com

Lý giải sự phát triển chậm chạp của việc cấp chứng chỉ rừng bền vững tại Việt Nam


Không chmang li li ích cho chrng tngun gkhai thác có giá trị cao hơn, chng chrng bn vững còn được xem là cơ hội giúp Vit Nam nâng cao năng lực qun trrng. 
Tuy nhiên, vic trin khai cp loi chng chnày hin vn gp mt số khó khăn về mt kthut, năng lực chuyên môn, vốn cũng như vấn đề về cơ chế chính sách. Đây là những nhân tchính yếcn trnlực đạt trên 1,86 triu ha din tích rừng được cp chng chbn vững vào năm 2020 củVit Nam – như trong Chiến lược Phát trin Lâm nghip Quốc gia đã đề ra. Và đó cũng là lý do tạsao trong rt nhiu cuc hp bàn vkế hoch bo v, phát trin rng, BNông nghip và Phát triNông thôn luôn đốc thúc rt ráo vấn đề này, trong đó đề cập đến mt số hướng đi nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mc còn tn ti.
Tiếp tục đọc

Advertisements

Ai Phá rừng?


Nếu có điều kiện thăm Vườn quốc gia Bạch Mã ở Huế, các bạn sẽ thấy trong phòng trưng bày có một cách cửa ghi chữ “Ai phá rừng, muốn biết bạn hãy mở cánh cửa này ra”. Khi mở cánh của ấy ra, bạn sẽ nhìn thấy một tấm gương, và câu trả lời đến với bạn, chính hình ảnh của bạn nằm trong tấm gương đó…

Tôi có may mắn được làm việc cho WWF trong một khoảng thời gian ngắn cách đây 4 năm, và sau này, khi làm việc tại một trường đại học tôi lại có những nghiên cứu liên quan đến sinh kế của người dân vùng cao, và gần đây nhất, tôi có cơ hội đi sâu tìm hiểu đời sống của các cộng đồng nghèo ở Lào, Việt Nam và cả Campuchia nữa.
Tiếp tục đọc

Nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ và đề xuất giải pháp sinh kế bền vững tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình


Lê Trọng Toán
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội

 I.  ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm đổi mới vừa qua, với sự hỗ trợ, ưu tiên của chính sách phát triển nhà nước, đặc biệt quan tâm, chú ý đối với kinh tế hộ của đồng bào các dân tộc miền núi và vùng cao, như một số chủ trương lớn đã được ban hành, đó là Nghị quyết 22/NQ-Tw của Bộ Chính trị, Quyết định số 72/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) rồi Nghị định số 20/1998/NĐ-CP của Chính phủ, được triển khai thông qua các chương trình lớn như định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trợ cước, trợ giá… (Nguyến Văn Nam, 2002) nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp miền núi đã có nhiều cố gắng và đạt được những tiến bộ bước đầu, hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi đã có những đóng góp to lớn và quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90% (Đoàn Quang Thiệu, 2009)

Tiếp tục đọc

Đánh giá một số tác động của quá trình triển khai cây Cao su ở Sơn La


Nguyễn Công Thảo, Lê Minh Anh, Vương Ngọc Thi
Báo cáo tại hội thảo “Chuyển đổi rừng sang trồng cao su cơ hội và thách thức” ngày 27/9/2013, tại Hà Nội

Cauy cao suBáo cáo này là kết quả nghiên cứu trường hợp tại huyện Mường La, tinh Sơn La, Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá những tác động về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như bước đầu chi ra những tác động tiềm ẩn đối với REDD+ và FLEGT cùa quá trình chuyển đổi đất nông, lâm nghiệp sang thành đất trồng cao su. Việc lựa chọn Sơn La làm điểm nghiên cứu xuất phát từ thực tế đây là địa phương ờ vùng miền núi phía Bắc Việt Nam có diện tích cao su phát triển mạnh nhất kề từ cuối năm 2007. Đây cũng là tinh mà mô hình góp đất trồng cao su theo mô hình công ty cổ phần lần đầu tiên được thí điểm từ Việt Nam. Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, nhóm triển khai nghiên cứu tại 2 xã cùa huyện Mường La; một xã gần và một xã xa trung tâm huyện đê so sánh các chiều kích tác động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường từ việc phát triển cây cao su.

Tiếp tục đọc

Phát triển cao su và bảo vệ rừng ở Việt Nam


Tô Xuân Phúc- Forest trends, Trần Hữu Nghị- Tropenbos International

Tóm tắt

go-1-d280aBáo cáo Phát triến Cao su và Bào vệ rừng ờ Việt Nam phân tích tác động của việc mờ rộng diện tích trồng cao su tại Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt tập trung vào hai vùng có tốc độ mở rộng diện tích nhanh nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc. Báo cáo đưa ra một số đánh giá về tác động của việc mờ rộng diện tích đến tài nguyên rừng, kinh tế hộ và cộng đồng, cũng như các tác động liên quan đến một số khía cạnh kinh tế xã hội và văn hóa tại các địa phương thực hiện việc mờ rộng diện tích cao su. Chiến lược phát triển ngành cao su đến 2015 và tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2009 đưa ra mục tiêu đến năm 2020 diện tích cao su cả nước ổn định ở mức 800.000 ha, với tống sản lượng 1,2 triệu tấn mủ và tống kim ngạch xuất khấu đạt khoảng 2 tỉ đô-la Mỹ (USD). Đến nay, các số liệu thống kê về diện tích, sản lượng và tổng kim ngạch đều vượt xa so với quy hoạch. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phá vỡ quy hoạch, trong đó đặc biệt phải kể đến lợi ích kinh tế kỳ vọng thu được thông qua xuất khẩu mù cao su trong tương lai.

Tiếp tục đọc

Giá trị môi trường và dịch vụ môi trường rừng


Vũ Tấn Phương 
Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trương rừng – Viện KHLN Việt Nam

Mở đầu
Rừng là bộ phận không thể thay thế được của môi trường sinh thái, giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống con người. Ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trường sống như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi và hạn chế bão lụt, hấp thụ các bon, duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học, vv. Các chức năng này của rừng được hiểu là các giá trị môi trường và dịch vụ môi trường.

Tiếp tục đọc

Đánh giá Nhu cầu Tăng cường Năng lực của các bên có liên quan đến lâm nghiệp cấp cơ sở nhằm giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD)


Tóm tắt

Đánh giá Nhu cầu Tăng cường Năng lực cho các bên có liên quan đến lâm nghiệp cấp cơ sở nhằm giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD) ở Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Đào tạo và Tăng cường năng lực cho các bên có liên quan đến lâm nghiệp cấp cơ sở nhằm giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD) khu vực châu Á-Thái
Bình Dương” do NORAD tài trợ có hợp tác với Chương trình UN-REDD Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang


Lời nói đầu

Tháng 5 năm 2002, chính phủ Việt Nam đã hoàn thành chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương. thông qua các chiến dịch thông tin và hàng loạt các hội thảo vùng. Cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chỉnh quyền địa phương có thể được thực hiện theo định hường vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu thực tế hơn, chủ trọng vào kết quả hơn, cân đổi tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực và được giám sát tốt hơn.

Tiếp tục đọc

Thông tin cơ sở về các loài bị đe dọa và các loài ngoại lai tại Việt Nam và các đề xuất cho nội dung của Luật Đa dạng Sinh học


Nguyễn Đức Tú
(Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam)

Tóm tắt

Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với nhiều yếu tố đặc sắc không thể phát hiện ở bất cứ nơi nào khác. Tuy nhiên, Việt Nam cũng được xếp hạng vào một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học bị đe dọa nặng nề nhất. Hệ thống văn bản pháp quy hiện tại của Việt Nam cũng đã được ban hành nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học của đất nước và giải quyết các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học, nhưng vẫn chưa đầy đủ và còn phân tán. Điều này dẫn đến yêu cầu cần xây dựng mới một bộ Luật Đa dạng Sinh học có tính thống nhất. Theo yêu cầu của Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, tài liệu này được thực hiện nhằm phân tích tình trạng hiện tại của các loài bị đe dọa và loài ngoại lai tại Việt Nam, các văn bản pháp quy liên quan đến các loài này, các khoảng thiếu hụt và không nhất quán trong các văn bản, và các kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng để giúp Việt Nam xây dựng bộ Luật Đa dạng Sinh học mới. Cuối cùng, báo cáo sẽ đưa ra các kiến nghị về các loài bị đe dọa và loài ngoại lai có thể đưa vào Luật Đa dạng Sinh học.

Tiếp tục đọc

Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam “Nghiên cứu tài liệu về kinh nghiệm và mô hình thành công”


Nhóm nghiên cứu:  Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Danh Tĩnh

Tóm tắt

Việt Nam đã có lịch sử lâu dài về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước ở khắp nhiều nơi trong nước, cả ở vùng đồng bằng và vùng cao, thể hiện dưới nhiều mô hình và cách thức khác nhau, phục vụ cho mục đích lấy nước sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng. Các mô hình truyền thống về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng thường dễ tìm thấy ở các vùng nông thôn miền núi, ở đó tài nguyên nước được xem như là tài sản chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị truờng ở Việt Nam, tài nguyên nước dần trở thành một thứ hàng hóa có giá trị thương mại.

Tiếp tục đọc